Tháp Pô Klong Garai nằm trên ngọn đồi Đồi Trầu (Mbuen Hala) thuộc địa phận phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa. Tháp Pô Klong Garai được xây theo mẫu số chung ảnh hưởng Ấn Độ giáo. Tuy được xây trên mô hình tháp của Ấn Độ giáo, nhưng tháp Chăm nhỏ bé hơn và có ảnh hưởng của văn hóa bản địa.
Tháp Pô Klong Garai được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XIII - XIV, bởi vua Jaya Sinhavarman III, để thờ thần Shiva, đến sau thế kỷ XV mới được người Chăm bản địa hoá để thờ vị vua Pô Klong Garai.
Truyền thuyết về Po Klong Girai kể rằng: ở Palei Caklaing làng Mỹ Nghiệp ngày nay, có hai vợ chồng ông Pasa và bà Caklaing họ rất nghèo khổ, tuổi đã cao nhưng chưa có con. Một hôm, ông bà ra biển mò cua bắt ốc thì thấy một bé gái trôi trên bọt nước bèn đưa về nuôi. Lớn lên, hàng ngày cô theo ông bà lên rừng rồi uống phải nước trên tảng đá bỗng dưng mang thai, ông bà lấy làm mừng, nhưng vẫn lo sợ sự đàm tiếu của xã hội không hay… Đến ngày mười bốn hạ tuần trăng, thứ bảy, tháng tư, năm Dần, đứa cháu nuôi của ông bà đã hạ sinh một cậu con trai rồi đặt tên là Ja Taol, ông bà hết lòng yêu thương và nuôi cháu khôn lớn. Lớn lên Ja Taol đi chăn bò cho ông rồi ngủ dưới bóng cây, tự nhiên bị phát ghẻ, lác đầy mình. Về sau Ja Taol đi buôn trầu, trong một lần nằm nghỉ trưa bỗng dưng có hai con rồng xuất hiện và liếm khắp cơ thể, ngay sau đó ghẻ lỡ biến mất và trở thành một chàng trai khôi khô, tuấn tú. Từ đó, tiếng đồn vang xa, chàng được trọng dụng và lập nhiều chiến công, lên ngôi vua Ja Taol lấy biệt hiệu Pô Klong Garai.
Pô Klong Garai trị vì vương quốc Champa được 54 năm (1151-1205), ông cai trị đất nước thịnh vượng, đặc biệt có công rất lớn trong việc khai mương đắp đập, dẫn thủy nhập điền, thể hiện rõ nhất là đập Nha Trinh và Lâm Cấm, công trình đến nay vẫn còn phát huy tác dụng cho phát triển nông nghiệp.
Theo tài liệu của nhà nghiên cứu của người Pháp, ông H. Pamentier (khảo sát 1909 - 1918) cho rằng: Tháp Pô Klong Garai là một quần thể kiến trúc lớn bao gồm 6 công trình kiến trúc. Hiện nay, di tích còn lại ba ngôi tháp gồm tháp Cổng, tháp Lửa và tháp Chính. Ngoài ba tháp hiện còn tồn tại, còn 1 tháp canh ở Đông Nam cùng dấu tích đế tháp ở phía Bắc và phía Tây Nam. Có một giả thuyết, có thể là một nhà để đồ (dạng tháp dài hoặc nhà dài) nhưng đã bị đổ chỉ còn lại nền gạch trước tháp Chính. Ngoài ra, có một miếu nhỏ phía Tây được người Chăm xây dựng trước năm 1975 để thờ vợ Pô Klong Garai là Bia Nai Kuer.

Về tổng thể kiến trúc, hiện nay nhóm tháp Pô Klong Garai còn các tháp như sau:
Tháp Chính: Là tháp thờ vị thần Shiva, sau này là Pô Klong Garai, được xây dựng trên vị trí trung tâm ngọn đồi, có quy mô lớn nhất. Tháp cao 20,50m (có chiều dài: 13,80m; chiều rộng: 10,71m). Tháp gồm 4 tầng, được xây theo bình đồ vuông là kiểu kiến trúc truyền thống của Champa, với nội thất hình chữ nhật theo hướng Đông - Tây và mở cửa ở hướng Đông.
Tháp Cổng: Đối diện với tháp Chính, có bình đồ vuông, quay về hướng Đông, là hình ảnh thu nhỏ của tháp Chính, cao 8,65m (có chiều dài: 5,10m; rộng: 4,85m), hai cửa thông nhau theo hướng Đông - Tây. Tháp cũng được xây theo nguyên tắc thu nhỏ dần lên tương tự như tháp Chính.
Tháp Lửa: Nằm ở phía Nam để thờ thần Lửa; có mái cong hình thuyền, khác hẳn so với hình dáng và cấu trúc của tháp Chính và tháp Cổng. Tháp kéo dài theo hướng Đông - Tây, có bình đồ hình chữ nhật, cao 9,31m (dài: 8,18m; rộng: 5,00m). Tháp có ba cửa thông nhau ba hướng Đông, Nam và Bắc, riêng phía Nam là cửa sổ. Bên ngoài mặt tường có trang trí bằng các cột ốp, mặt tường dài 5 cột, mặt tường ngắn 3 cột nhưng ở dưới chân không có hình trang trí. Các cột ốp ở góc tường nhô ra nhiều hơn so với tháp Chính và tháp Cổng, chân cột thuộc loại gờ lượn đơn giản, tháp có 2 tầng nhỏ phía trên.
Về kỹ thuật xây dựng, tháp Chăm chủ yếu làm bằng gạch nung có màu đỏ, kích thước của mỗi viên gạch thường là 35 x 18 x 5mm. Các nhà nghiên cứu người Pháp và gần đây là các chuyên gia Ba Lan đã nghiên cứu chất kết dính trong xây dựng tháp Chăm. Chất kết dính mà người Chăm xưa đã dùng ở đây có màu nâu đậm, giữa các viên gạch chỉ cần một lớp mỏng cũng đủ chắc chắn và có độ bền. Có ý kiến cho rằng chất kết dính được sử dụng xây tháp là nhựa cây dầu rái; cũng có ý kiến lại cho là sử dụng kỹ thuật mài mặt tiếp xúc của những viên gạch; ý kiến khác tháp được xây bằng những viên gạch nung sẵn và được gắn với nhau bằng một màng mỏng đất sét, sau đó toàn bộ tháp được nung lên... Thế nhưng, giả thiết vẫn đợi lời giải đáp cuối cùng về chất kết dính dùng để xây tháp, đó đang là một câu hỏi bí ẩn, lôi cuốn các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Cho đến nay, tháp Pô Klong Garai dù trải qua bao thăng trầm, chịu bao thời tiết khắc nghiệt… nhưng vật liệu dùng để xây dựng tháp không hề bị hỏng, chất kết dính vẫn không mất tác dụng từ nền móng đến đỉnh tháp.
Về trang trí nghệ thuật, tháp Chăm được xây dựng nhiều thời kỳ, mang nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau. Tháp Pô Klong Garai thuộc phong cách Bình Định. Đặc trưng của phong cách này là các hoa văn được sử dụng đơn giản hơn, chủ yếu trang trí ở cửa chính, cửa giả, thể hiện hình lá cây bằng đất nung gắn lên các cửa mà các nhà khoa học thường gọi là lá nhĩ. Các trụ không có hoa văn, trên cửa chính của tháp Chính có hình lá đề cách điệu.
Các mặt tường tháp được trang trí bằng các cột giả, mỗi mặt có 4 cột, giữa các cột được chạm lõm vào mặt tường thành hình các ô khám có phần đỉnh và phần chân đăng đối nhau. Tháp có những đường diềm hình hoa sen nở trên gờ tháp. Ở 4 mặt tháp có gờ nổi dọc giữa hai trụ đứng, đế tháp là hình vuông có hình dạng Yoni, một dạng phổ biến thường thấy trong kiến trúc tháp Chăm, để phối kết hợp với một hình tượng Linga, chính là ngôi tháp.
Về phần mái của tháp Chính có 3 tầng cấp thu nhỏ và thu ngắn về phía trên lặp lại phần thân tháp. Tuy nhiên, tất cả các tháp Chăm dù theo phong cách nào, hình dáng, kích cỡ nào thì tháp đều có hình dáng mô phỏng và tượng trưng cho Linga. Còn bình đồ tháp có hình vuông hoặc gần vuông đều mô phỏng và tượng trưng cho Yoni trong đó phần nhô ra ở cửa chính của các tháp chính thường được gọi là tiền sảnh, có vòm cửa tương đối ngắn gắn liền mặt bằng hình vuông của bình đồ tháp tạo nên một hình ảnh chân thực về hình ảnh Yoni một cách rõ nét hơn.
Về điêu khắc, điêu khắc đá có mặt sớm trong nghệ thuật xây dựng tháp Chăm, song hành với kiến trúc. Tại tháp Pô Klong Garai, các hiện vật điêu khắc đá chính bao gồm:
- Tượng thần Shiva: Trên cửa chính của tháp Chính có tượng điêu khắc thần Shiva 6 tay, trong tư thế nhảy múa, được coi là một trong những tượng thần Shiva đẹp nhất trong hệ thống tượng phù điêu Shiva qua các thời kỳ và các phong cách. Theo tín ngưỡng và tôn giáo của người Chăm thờ nhiều vị thần khác nhau, nhưng thần Shiva được tôn sùng và đề cao hơn cả và đó là dấu ấn rõ nhất về nền văn minh Ấn Độ được Chăm hóa. Thần Shiva là một trong ba vị thần tối cao gồm Shiva, Brama, Visnu còn được gọi là tam vị nhất thể "Trimutri". Shiva là một vị thần hủy diệt và tái tạo (hủy diệt những cái xấu, cái không tốt và tái tạo lại những cái mới tốt hơn để mang lại hạnh phúc cho muôn loài). Bức phù điêu đã khắc hoạ điệu múa vũ trụ (điệu múa Tavanda), đứng trên vũ trụ nhìn xuống thế gian với ba con mắt thể hiện cho mặt trời, mặt trăng và ngọn lửa thế gian có thể nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Bò thần Nandin: Trước lối vào cửa tháp chính có một tượng bò thần Nandin trong tư thế ngồi chầu quay mặt về phía Mukhalinga, cổ đeo lục lạc, được tạc bằng đá. Trong Ấn Độ giáo, bò Nandin là vật cưỡi của thần Shiva. Do vậy, tượng bò Nandin thường gắn với nơi thờ thần Shiva. Theo quan niệm của người Chăm Bàlamôn, khi chết, linh hồn của mọi người sẽ được bò thần Nandin đưa về cõi vĩnh hằng. Tượng bò thần Nandin không chỉ được đặt trong lòng tháp mà ở tầng trên cùng của tháp chính (tầng thứ tư) có bốn đầu bò thần hướng mặt về bốn phía.
- Tượng Mukhalinga Pô Klong Garai: Tượng thờ Pô Klong Garai được tạo tác trên Linga - Yoni, một biểu tượng sáng tạo của thần Shiva, được thờ phụng trong tháp chính Pô Klong Garai. Đây là hiện vật gốc độc bản, là tác phẩm điêu khắc được nghệ nhân thể hiện khéo léo và độc đáo về hình tượng Mukhalinga, nhưng đầu điêu khắc hình mặt vua gắn vào Linga - một hình ảnh trừu tượng của Thần Shiva cùng hình ảnh vị vua oai nghiêm đầy sáng tạo. Sự kết hợp hoàn hảo hai yếu tố thần quyền và vương quyền nhất thể chỉ có ở tượng thờ Pô Klong Garai. Với những yếu tố trên, tượng thờ Pô Klong Garai được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18/01/2024.
Ngoài ra, các cửa giả ba tầng ở trên tháp chính đều có tượng thần thời gian ngồi chắp tay, đội mũ, hình khối đơn giản. Mỗi bên của 4 mặt tháp có 2 vị nữ thần chầu chắp tay; ngoài ra, còn có các hoa văn lá cách điệu bằng đá, tầng trên thể hiện các hoa sen cách điệu, trên chóp tháp của mỗi tầng có nụ sen bằng đá.
Ngoài ra, tháp chính còn có 4 trụ cửa đá có khắc các dòng chữ Chăm cổ phác họa sinh động toàn cảnh sinh hoạt nông nghiệp của người Chăm cuối thế kỷ XIII - XIV. Đặc biệt, phiến đá 3 mặt khắc chữ Phạn cổ ở phía Đông Bắc tháp chính có niên đại thế kỷ XI (1050) là bia ký của hai hoàng thân - hai em trai của vua Jaya Paramesvarman I. Nội dung của bia ký nói về việc hai vị hoàng thân tên là Yuvaraja và Devaraja, sau chiến thắng trong việc đàn áp cuộc nổi dậy của người dân Panduranga, đã cho dựng một linga và một cột chiến thắng, niên đại này khác với niên đại của Pô Klong Garai.
.jpg)
Về lễ hội, tháp Pô Klong Garai là trung tâm hành lễ tôn giáo của cư dân Chăm trong vùng. Trong đó, tháp Pô Klong Garai là nơi tổ chức lễ hội lớn và quy mô nhất.
Tại tháp Pô Klong Garai, hàng năm diễn ra nhiều nghi lễ như: Lễ Mở cửa tháp (lễ Peh Bimbeng Yang); Lễ Cầu đảo (lễ Yuer yang); Lễ hội Katê; Lễ cúng Nữ thần Mẹ xứ sở Pô Inư Nưgar (lễ Cambur). Trong đó, nổi bật và thu hút sự quan tâm đặc biệt nhất là lễ hội Katê. Người Chăm tổ chức lễ hội Katê nhằm cúng tế các vị thần như: Pô Klong Garai, Pô Rômê,… tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên, trời đất đã phù hộ độ trì. Lễ hội Katê diễn ra trong một không gian rộng lớn, thời gian tổ chức vào thượng tuần trăng từ mồng 01 tháng 7 lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch) và kéo dài cả tháng, cho nên người Chăm thường gọi là Bilan Katê (tháng Katê).
Trải qua nhiều thế kỷ, tháp Pô Klong Garai vẫn giữ nguyên giá trị kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc và văn hóa, trở thành biểu tượng tín ngưỡng và tôn giáo, là niềm tự hào của cộng đồng người Chăm. Với những giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích kiến trúc nghệ thuật tháp Pô Klong Garai đã được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2499/QĐ-TTg ngày 22/12/2016.
Thành Thị Hồng Cẩm